Công tác thông tin tư liệu sáng chế
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Cục Sáng chế thời gian này là thu thập, xử lý, lưu trữ và tổ chức khai thác thông tin tư liệu sở hữu công nghiệp phục vụ cho việc xét nghiệm nội dung đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ và cho các hoạt động nghiên cứu triển khai, phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi tổ chức cá nhân trong cả nước. Tư liệu sở hữu công nghiệp cần thu thập chủ yếu là các bản mô tả sáng chế/giải pháp hữu ích, các công báo sở hữu công nghiệp do các nước, các tổ chức quốc tế công bố.
Trong hoàn cảnh khó khăn về kinh phí để nhập tư liệu, Cục Sáng chế chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi thông tin tư liệu sở hữu công nghiệp với các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan mà trước mắt với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, đặc biệt là Liên Xô và Cộng hoà dân chủ Đức. Năm 1982, Cục tiếp nhận kho mô tả sáng chế khoảng 10 000 bản do Cục Patent Cộng hoà dân chủ Đức công bố. Năm 1985, Cục tiếp nhận hàng triệu bản mô tả sáng chế do Ủy ban Sáng chế Phát minh Nhà nước Liên Xô công bố từ năm 1924. Cục cũng thường xuyên nhận được các bản mô tả sáng chế, công báo sáng chế, công báo nhãn hiệu hàng hoá và các tài liệu luật pháp, nghiệp vụ về sở hữu công nghiệp của các nước xã hội chủ nghĩa. Đến năm 1989, Cục đã thu thập được khoảng 7 triệu bản mô tả sáng chế, đều là bản giấy. Để có thể khai thác các tư liệu có được, Cục xây dựng các bộ phiếu tra cứu theo chỉ số phân loại sáng chế quốc tế. Cục cũng tiến hành dịch và ấn hành bảng phân loại sáng chế quốc tế lần 3.
Tháng 1.1984, số Thông báo sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá đầu tiên được ấn hành (bằng 3 thứ tiếng: Việt, Nga, Anh). Từ năm 1985 đến 1989, Thông báo sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá được ấn hành mỗi năm 4 số bằng 3 thứ tiếng như trên. Cùng với việc ấn hành Công báo, Cục Sáng chế còn ấn hành các bản mô tả sáng chế để lưu trữ tại Cục và để trao đổi với cơ quan Patent nước ngoài cũng như cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trong nước có nhu cầu.
Nhìn chung công tác thông tin tư liệu thời kỳ này tập trung chủ yếu vào việc thu thập tư liệu, nghiên cứu phương thức khai thác, tạo dựng phương tiện tra cứu và ấn hành các tư liệu thông tin để công bố sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá đã được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của Nghị định 31-CP và Nghị định 197-HĐBT của Chính phủ. Việc tổ chức khai thác các tư liệu patent hiện có còn bị hạn chế do điều kiện địa điểm chật hẹp, lượng tư liệu thu thập được chưa nhiều và nhu cầu xã hội về thông tin patent chưa cao.
|