PHẦN 1
°

Trước 1982

°
1981 - 1989
°
1990 - 1995
°
1996 - 2002
PHẦN 2
°
Tổ chức, Cán bộ
°
Cơ sở pháp lý
°
Sáng chế
°
Giải pháp hữu ích
°
Kiểu dáng công nghiệp
°
Nhãn hiệu hàng hoá
°
Chuyển giao quyến sở hữu trí tuệ
°
Giải quyết khiếu nại về SHTT
PHẦN 3
°
Nghị định và Chính sách
 

  PHẦN 1 - 1981 - 1989  
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp

Khi Cục Sáng chế được thành lập thì văn bản pháp lý duy nhất có hiệu lực liên quan đến sở hữu công nghiệp là Điều lệ về sáng kiến, cải tiến kỹ thuật - hợp lý hoá sản xuất và sáng chế ban hành kèm theo Nghị định 31-CP ngày 23.01.1981 của Hội đồng Chính phủ.

Công việc đầu tiên mà Cục Sáng chế ưu tiên triển khai thực hiện là nghiên cứu xây dựng các văn bản pháp luật làm cơ sở để triển khai bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp khác, trước mắt là tập trung nghiên cứu soạn thảo trình Chính phủ ban hành Văn bản về nhãn hiệu hàng hoá. Nghị định 197/HĐBT và “Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá” đã được Chính phủ ban hành ngày 14.12.1982. Ngày 18.10.1983, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành Thông tư số 125/Sáng chế hướng dẫn thi hành Điều lệ này. Như vậy là đến cuối năm 1983, việc bảo hộ 2 đối tượng quan trọng của quyền sở hữu công nghiệp là sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá đã được quy định trong 2 Nghị định của Chính phủ.

Để tiếp tục triển khai bảo hộ các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp, từ năm 1986 Cục Sáng chế đã tiến hành nghiên cứu soạn thảo và lần lượt trình Hôi đồng Bộ trưởng ban hành:

  • Nghị định 85-HĐBT ngày 13.5.1988 ban hành “Điều lệ về kiểu dáng công nghiệp”;
  • Nghị định 200/HĐBT ngày 28.12.1988 ban hành “Điều lệ về giải pháp hữu ích”;
  • Nghị định 201/HĐBT ngày 28.12.1988 ban hành “Điều lệ về mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật” (gọi tắt là Điều lệ về mua bán li-xăng).

Tính đến cuối năm 1984, 4 đối tượng sở hữu công nghiệp quan trọng đã được triển khai bảo hộ dựa trên các Nghị định riêng rẽ do Chính phủ ban hành. Theo các Nghị định này, các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp chủ yếu là các biện pháp hành chính, các nguyên tắc và nội dung bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp phản ánh các nguyên tắc của một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa theo mô hình các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, mà điển hình là việc bảo hộ sáng chế được quy định dưới 2 hình thức: Bằng tác giả sáng chế và Bằng độc quyền sáng chế. Bằng tác giả sáng chế (hình thức bảo hộ sáng chế phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung) được khuyến khích sử dụng, còn hình thức Bằng độc quyền sáng chế (phù hợp với nền kinh tế thị trường) thì chủ yếu dành cho người nước ngoài.

Vào thời kỳ này, nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới. Để đưa hoạt động sở hữu công nghiệp phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới và để nâng cao hiệu lực các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp, Cục Sáng chế đã đề xuất và phối hợp với Vụ Pháp luật Văn phòng Quốc hội và các cơ quan khác nghiên cứu soạn thảo dự thảo Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Pháp lệnh đã được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 28.01.1989 và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ký Lệnh công bố số 13LCT/HĐNN8 ngày 11.02.1989. Đây là lần đầu tiên khái niệm “sở hữu công nghiệp” được chính thức sử dụng trong văn bản pháp luật. Ngoài 4 đối tượng là sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hoá đã được bảo hộ theo các Nghị định của Chính phủ, Pháp lệnh còn quy định bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá nhằm khuyến khích việc tạo ra các sản phẩm độc đáo có xuất xứ từ các vùng, các địa phương trong nước.

Cục Sở hữu trí tuệ và công nghiệp Việt Nam
384 - 386 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
Tel: + 84.4.8583069 Fax: + 84.4.8584002 Email: info@noipvietnam.com